CÁO PHÓ: ĐỨC CHA PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN SANG - Nguyên Giám mục... Ngày Lễ Tạ Ơn và băng khánh thành nhà chung GX Vinh Sơn... Những Hình Ành Mới Nhất Từ Ngày Tam Nhật Vượt Qua Cho Đến Ngày Lễ... Công tác chuẩn bị Chầu Thánh Thể giáo xứ Vinh Sơn Thông Báo Ngày Lễ Kính Thánh Vinh Sơn Quan Thầy, Và Ngày Đồng... Thông Báo Ngày Lễ Kính Thánh Vinh Sơn Quan Thầy, Và Ngày Đồng... Hình ảnh - Hoàn thiện móng, nền nhà Chung và tiếp tục xây dựng... Hình ảnh - Thánh lễ tại vườn Thánh Thai Nhi giáo xứ Quan Cao Mô Hình - Nhà Chung, Nhà Thờ Giáo Xứ Vinh Sơn Hình ảnh - Thánh lễ chính tiệc tuần chầu lượt giáo xứ nhà Hình ảnh - Thánh lễ khai mạc tuần chầu và kiệu Thánh Thể Hình ảnh - Thánh lễ khai mạc tuần chầu và kiệu Thánh Thể Hình ảnh - Thánh lễ chính tiệc tuần chầu giáo xứ nhà Hình ảnh - Thánh lễ khai mạc tuần Chầu Chúa Giê-su Thánh Thể Album - Một số hình ảnh chuẩn bị cho tuần Chầu lượt giáo xứ nhà Thông Báo Về Cổng Thông Tin Chính Thức Của Nhà Chung Giáo Xứ Vinh... Hình ảnh - Kỷ niệm ngày 20 em TNTT trong giáo xứ xưng tội & chịu... Hình ảnh - Kỷ niệm ngày 20 em TNTT trong giáo xứ xưng tội & chịu...

. GP NHÌN LẠI 1. Lịch Sử Khai Sinh GP a. Bối cảnh lịch sử

Đăng lúc: Thứ tư - 23/03/2011 17:47 - Người đăng bài viết: pham thi thu
. GP NHÌN LẠI 1. Lịch Sử Khai Sinh GP a. Bối cảnh lịch sử

. GP NHÌN LẠI 1. Lịch Sử Khai Sinh GP a. Bối cảnh lịch sử

GP Thái Bình được xây dựng bằng ân sủng của Thiên Chúa và xương máu các thánh tử đạo. Quá trình phát triển đầy bi hùng đã làm nảy sinh một GP trẻ được thành lập muộn nhất trong TGP Hà Nội (1936). Tuy mới được tách khỏi GP Bùi Chu, nhưng GP Thái Bình có chung chiều dài lịch sử với những biến cố chính của GP đó cũng như thời còn là GP Trung (1848), cũng như GP Đông (1679) và GP Đàng Ngoài (1659). Vì cùng chung dòng chảy lịch sử với GH Việt Nam, Giáo Tỉnh Hà Nội và đặc biệt là các GP thuộc các cha Dòng Đa Minh coi sóc. Do vậy, trước khi cùng tìm hiểu xem hạt giống Phúc Âm được gieo vãi trên phần đất GP từ thời điểm nào, cũng nên biết sơ qua về lịch sử truyền giáo của GH Việt Nam.


Lịch sử đạo Công Giáo ở Việt Nam được các nhà viết sử ghi cái mốc đầu tiên căn cứ vào Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục soạn thảo dưới thời vua Tự Đức từ năm 1856, phần chính biên, quyển 33, tờ 56 khi nói đến chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa (hay đạo Giatô, phiên âm của chữ Giêsu của chữ Hán), vào năm 1663 dưới triều vua Lê Huyền Tông, đã chú thích như sau: “Giatô, dã lục, Lê Trang Tông, Nguyên Hòa nguyên niên, tâm nguyệt nhật, Dương nhân Inêkhu tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thủy chi Trà Lũ âm dĩ Giatô tả đạo truyền giáo”. Dịch nghĩa: “Đạo Giatô, theo bút ký của tư nhân, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời vua Lê Trang Tông, có người Tây dương tên INêkhu, lén đến truyền đạo Giatô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy” (thuộc tỉnh Nam Định, GP Bùi Chu hiện nay). Nhưng sự kiện này chưa chứng minh được. Việc truyền giáo chỉ được viết lại trong các sách báo nhiều thừa sai ghi lại từ đầu thế kỷ XVII.
Thời kỳ đó, nước Việt Nam đang trong hồi Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước chia đôi. Phía bắc sông Gianh thuộc quyền vua Lê, chúa Trịnh gọi là Bắc Hà hay Đàng Ngoài. Phía nam sông Gianh là Nam Hà, hay Đàng Trong, thuộc quyền chúa Nguyễn. Sự truyền giáo vì thế cũng khác biệt. Đàng Trong đón nhận Tin Mừng sớm hơn, bắt đầu từ năm 1615. Mười một năm sau, ánh sáng Đức Tin mới rọi tới Đàng Ngoài vào năm 1626. Việc truyền giáo bị chênh lệch về thời gian như vậy vì Chúa Trịnh giao thương với người Hòa Lan là nước Thệ phản. Chúa Nguyễn lại ưu đãi thương thuyền Bồ Đào Nha là nước Công Giáo. Tàu Bồ Đào Nha khó buôn bán được với Đàng Ngoài nên các thừa sai cũng không dễ đến.
GH Việt Nam sớm có các vị GM là do công của giáo sĩ Đắc Lộ. Năm 1645, ngài bị trục xuất khỏi Việt Nam lần thứ năm. Sau hơn ba năm, ngài về đến Rôma ngày 27.6.1649, sống tại Rôma ba năm, ngài đã vận động Tòa Thánh thiết lập các GP tại Việt Nam và các xứ Viễn Đông. ĐTC đã muốn bổ nhiệm ngài làm GM, nhưng ngài từ chối, nên được giao nhiệm vụ giới thiệu lãnh trọng trách ấy.
Ngày mồng 9.9.1659, ĐTC Alexandro VII ký Đoản Sắc Super Cathedram Principis thiết lập hai địa phận tại Việt Nam: Địa Phận Đàng Ngoài (gồm cả Ai Lao và các tỉnh miền nam Trung Hoa) và Địa Phận Đàng Trong (gồm cả Chiêm Thành, Cao Miên và Thái Lan). ĐC Fancois Pallu GM đại diện tông tòa địa phận Đàng Ngoài và ĐC Pier Lambert de La Motte đại diện tông tòa địa phận Đàng Trong.
Hai mươi năm sau, ngày 25.11.1679, ĐTC Innôcentê XI ban sắc chia Địa Phận Đàng Ngoài làm hai. Lấy sông Hồng và sông Lô làm ranh giới. Địa Phận Tây Đàng Ngoài từ hữu ngạn hai sông vào tới biên giới Ailao và xuống đến sông Gianh, GM tông tòa là ĐC Giacôbê Bourges. Địa Phận Đông Đàng Ngoài từ tả ngạn hai sông ra đến biển, dưới quyền chăm sóc của Đức GM tông tòa Phanxicô Deydier. Địa Phận Đông gồm cả phần đất GP Thái Bình ngày nay.
Qua hơn hai thế kỷ, đúng ra là 231 năm Địa Phận Đông Đàng Ngoài đã có giáo dân quá đông, địa phận lại rộng lớn, nên ĐC Hermosilla Liêm đã xin Tòa Thánh lập thêm một địa phận mới. Ngày 5.9.1848, ĐTC Piô IX đã ban chiếu thư thành lập địa phận Trung (cũng gọi là Trung Ký). Chiếu thư về đến Việt Nam ngày 28.2.1849. Đến ngày 17.3.1849 mới chính thức thi hành sắc lệnh. Theo đó, địa phận Đông bị cắt bớt tỉnh Hưng Yên và hai phần ba tỉnh Nam Định (trong đó có tỉnh Thái Bình ngày nay) để thành lập địa phận Trung, trao cho ĐC Marti Gia coi sóc, TGM đặt tại Bùi Chu.
Đến năm 1924, bằng một chiếu thư của Tòa Thánh ký ngày mồng 3 tháng 12, tên các địa phận được gọi bằng tên nơi có nhà thờ chính tòa GP, nên địa phận Trung kể từ đó được gọi là Địa Phận Bùi Chu.
b. Quá trình hình thành và phát triển của GP Thái Bình[1]
Riêng phần đất thuộc GP Thái Bình ngày nay, lần theo vết lịch sử, chúng tôi thấy một dấu chấm khởi đầu cho công cuộc truyền giáo, qua một bài thơ chữ hán được lưu truyền ở xứ Kẻ Bái:
Đế hiệu Dương Hòa đệ tứ niên,
Dương nhân thu tiết đáo giang biên,
Sĩ lê Bồ Bái đa hân thụ,
Chân đạo Giatô dĩ khả truyền.
Hiệu vua Dương Hòa năm thứ bốn, 1638, đã có một thừa sai ngoại quốc đến ven sông thuộc làng Bồ Trang, Kẻ Bái để giảng đạo. Người dân ở đây, kẻ có học cũng như người bình dân, đều hân hoan đón nhận và tin đạo Chúa Kitô là đạo thật, phải giữ và lưu truyền cho hậu thế.
Trước năm 1626, cũng có một vài thừa sai đến Đàng Ngoài thăm dò cánh đồng  truyền giáo, được chúa Trịnh tiếp nồng hậu, nhưng vì không biết tiếng Việt nên không thể giảng đạo. Vị thừa sai đó phải trở lại Macao để xin bề trên sai các nhà truyền giáo từ Đàng Trong trở về Macao, rồi từ đó mới đến Đàng Ngoài giảng đạo.
Ngày 19.3.1626, cha Đắc Lộ từ Macao đến từ cửa Bạng, Thanh Hoá, rồi lên Thăng Long, cha đã giảng đạo ở Đàng Trong nên đã rành tiếng Việt. Được chúa Trịnh cho phép rao truyền đạo Công Giáo, cha đã hăng say giảng rao Tin Mừng ngay tại kinh đô và tiếp tục nghiên cứu, hệ thống hóa cách dùng mẫu tự Latinh để ghi cách phát âm tiếng Việt. Cha đã dùng mẫu tự Latinh viết cuốn sách Phép Giảng Tám Ngày (tên đầy đủ là “Phép Giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời: Cathechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus”), một cuốn giáo lý đầu tiên bằng tiếng Việt.
Những năm kế tiếp, Macao lại lần lượt gửi thêm thừa sai đến Đàng Ngoài. Vào thập kỷ 1630, cha Felice Morelli được gửi đến Bắc Hà. Sau một thời gian học tiếng Việt, năm 1673, cha Morelli được phái đi giảng đạo tại miền Nam Kẻ Chợ, tức miền Nam Định (lúc ấy gọi là trấn Sơn Nam). Năm 1638 cha đến Bài Bồ Trang bằng đường sông Luộc. Ngài ghé vào làng rao truyền chân lý Phúc Âm. Được dân làng niềm nở tiếp đón, cha đã trụ lại tại Kẻ Bái làm bàn đạp tung gieo Tin Mừng đến các làng xa hơn trong Phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam.
Cha hoạt động ở vùng Kẻ Bái, trên phần đất GP Thái Bình ngày nay, sao chép cuốn Phép Giảng Tám Ngày làm tài liệu giảng đạo. Bài vè Lập xứ Kẻ Bái có nói rõ:
Nhiều người trong xã Bồ Trang,
Học theo đạo mới xem dường khi nay.
Bày ra Phép Giảng Tám Ngày,
Ai tin học hết thì thầy rửa cho.
Đến năm 1640, cha Morelli thay thế cha bề trên Gaspar d’Amaral, lãnh đạo giáo đoàn Đàng Ngoài. Cũng thời gian này vua Lê, chúa Trịnh rất có cảm tình với các thừa sai, nên năm 1645, chúa Trịnh đã nhận cha Morelli làm dưỡng tử, gọi cha bằng tên Việt Nam là Phúc Ông (dịch chữ Felice tên của cha). Trong hoàn cảnh thuận lợi cả về phía đời cũng như đạo như vậy, nên cha đã lập xứ đầu tiên trên phần đất GP Thái Bình ngày nay, đó là xứ Kẻ Bái. Theo bài vè trên thì ngày thành lập xứ là lễ Phục Sinh năm 1645, “lúc hết mùa Giêgiung” (Ghiêgiung, phiên âm tiếng Latinh Jejuium có nghĩa là mùa Chay). Ngày thành lập (khoảng năm 1645), địa bàn xứ Kẻ Bái rất rộng:
Bảy năm đi hết cả miền,
Thì thầy ở lại hẳn miền Bồ Trang,
Lập nên xứ Bái rõ ràng,
Nam xuống Lai Ổn, đông sang Ninh Cù.
Chuông treo trống sắm cờ mua,
Bấy giờ là lúc hết mùa Giêgiung.
Hạt giống Tin Mừng đã được tung gieo trên phần đất Thái Bình, mà hạt đầu tiên nẩy mầm trên Kẻ Bái Bồ Trang. Xứ Kẻ Bái đã trở thành cái nôi Đức Tin của GP. Sử Ký Địa Phận Trung khi viết về xứ Cao Mộc đã xác định điều này: “xứ này trước thuộc về xứ Kẻ Thái như các xứ khác thuộc về Phủ Thái”. Mệnh đề này quả quyết xứ Cao Mộc cũng như các xứ khác trên đất Phủ Thái, trước khi trở thành GX đều liên thuộc xứ Kẻ Bái.
Năm 1649, cha Morelli trao quyền lãnh đạo giáo đoàn Đàng Ngoài cho cha Girolamo Magori, để rồi năm 1650, cha trở về Macao. Trên đường về, tàu cha đi gặp tai nạn chìm sâu dưới lòng biển, cha đã tới bến Thiên Đàng.
Như vậy, chúng ta có thể quả quyết rằng thừa sai Felice Morelli, một LM Dòng Tên, quốc tịch Italy, là tổ phụ truyền giáo của GP Thái Bình. Ngài trực tiếp gieo rắc hạt giống Tin Mừng trên phần đất GP từ năm 1638 cho đến năm 1649. Trong hơn mười năm, ánh sáng Đức Tin từ Kẻ Bái đã rọi chiếu đến các làng xa hơn, trên đất Phủ Thái.
Các thừa sai Dòng Tên (cũng có thừa sai Dòng Âutinh, Dòng Phansinh) là những thợ Phúc Âm khai phá lòng Tin của các tín hữu miền Bắc Việt Nam. Đến khi ĐC Francois Pallu, GM tông tòa địa phận Đàng Ngoài Việt Nam bị bão giạt vào Phi Luật Tân, năm 1673, gặp được cha bề trên tỉnh hạt Rất Thánh Mân Côi Dòng Đaminh, ĐC đã xin tỉnh Dòng phái thừa sai sang Việt Nam giúp GP Đàng Ngoài của ngài. Sau thời gian đó, Phố Hiến mới trở thành nơi tiếp đón các nhà truyền giáo, nhất là các thừa sai Dòng Đa Minh từ Phi Luật Tân tới.
Khai sinh GP
Ngày mồng 3.9.1890, nhà cầm quyền Pháp thành lập tỉnh Thái Bình, lấy phủ lị của Phủ Thái làm trụ sở của cơ quan Hành chánh tỉnh. Họ đạo tại phủ lị của Phủ Thái hồi đó còn bé nhỏ gọi là họ Kỳ Bá, thuộc xứ Sa Cát. Gọi là họ đạo nhưng thật ra số tín hữu quá ít ỏi, không thể làm được một nhà nguyện nhỏ. Kỳ Bá hay Kỳ Bố, cũng gọi là Bố Hải khẩu, Kỳ Bá có tên bộ là Bo (như bến đò Bo, rồi cầu Bo). Cha Phêrô Munagorri Trung, cha xứ Sa Cát đương thời, đã nhìn thấy viễn tượng Thái Bình sẽ là nơi đặt một TGM. Vì thế năm 1906, cha đã xây cất nhà thờ tỉnh lị Thái Bình là một thánh đường kiểu gothic nguy nga đồ sộ. Hai năm sau cha Trung lên làm GM, ngày 17.8.1908, ngài đã thành lập GX Thái Bình, gồm 11 họ lẻ cắt xứ Cổ Việt và xứ Sa Cát, với hơn hai ngàn tín hữu. Cha Tràng An (Marcos Gispert) làm cha chính xứ đầu tiên.
Địa Phận Trung là địa phận truyền giáo lớn. Mấy chục năm sau, ĐC Trung đã đem đến điểm cực thịnh, nên trở thành quá lớn đối với một chủ chăn. Các bề trên nhận thấy là cần phải phân chia. Ngay từ năm 1934, ĐTC Piô XI đã có ý chia Địa Phận Bùi Chu làm hai, đồng thời dần dần chuyển quyền lãnh đạo GP cho hàng giáo sĩ bản quốc. Ngày 12.3.1935, ĐTC đã cử cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm GM phó Bùi Chu với quyền kế vị. Địa Phận Bùi Chu là địa phận thứ hai chuyển giao cho hàng giáo sĩ Việt Nam (sau Địa Phận Phát Diệm, ĐC Nguyễn Bá Tòng, 20.10.1933). Vì thế khi thành lập GP Thái Bình, các thừa sai Tây Ban Nha đều bỏ Bùi Chu sang GP Thái Bình.
Ngày 9. 3.1936, bằng một sắc lệnh Praecipuas inter Apostolicas: (Những Ưu Tư Tông Đồ), ĐTC Piô XI đã thiết lập GP Thái Bình. Sắc Lệnh chỉ rõ: tỉnh Hưng Yên (không trọn: 4 huyện cực bắc không thuộc GP Thái Bình) và tỉnh Thái Bình được tách khỏi Địa Phận Bùi Chu, để thành lập Địa Phận Thái Bình. TGM đặt tại tỉnh lị Thái Bình. Dự đoán của ĐC Trung, lúc còn là cha xứ Sa Cát, trở thành hiện thực.
Theo thống kê năm 1939 của Les Missions Catholiques en Indochine thì GP Thái Bình, sau khi thành lập, có nhân sự phục vụ tín hữu khá hùng hậu, thống kê viết: 1 vị GM tông tòa - ĐC Joan Casado Thuận -, 25 LM Dòng Đaminh, người Tây Ban Nha, 57 LM người Việt Nam, 333 thầy giảng, 12 sư huynh Lasan, 10 nữ tu Dòng Thánh Phaolô, 280 nữ tu Dòng ba Đaminh, 140.000 tín hữu trong 50 GX và 552 họ lẻ.
c. Thiết lập GP
* Sắc chỉ thiết lập GP
Sau đây là toàn văn bản Sắc lệnh “Praecipuas inter Apostolicas: Những ưu tư Tông đồ”, đã được dịch như sau:
Sắc Lệnh Những Ưu Tư Tông Đồ
thành lập GP Thái Bình
Tông thư Tòa Thánh cắt một phần lãnh thổ của GP tông toà Bùi Chu, xứ Đông Dương, lập thành GP mới Thái Bình và trao cho Dòng Đaminh coi sóc. GP Bùi Chu, phần còn lại, trao cho hàng giáo sĩ bản quốc.
PIÔ GM
Tôi tớ các tôi tớ Chúa
để muôn đời ghi nhớ
Trong những ưu tư tông đồ đặc biệt của nhiệm vụ Chúng tôi, mối ưu tư thúc bách Chúng tôi hết sức là mở rộng nước Chúa Kitô ngày một rộng hơn nữa tại các quốc gia ngoại giáo. Để đạt mục đích ấy, hàng giáo sĩ LM bản quốc tỏ ra thích thuận hơn cả. Họ rất dễ liên lạc với đồng bào họ và do đó, có thể kêu mời và dẫn đưa đồng bào họ gia nhập GH dễ dàng hơn. Điều ấy Chúng tôi đã thấy trước mắt, và xét rằng GP tông tòa Bùi Chu là rất rộng, chỉ một vị chủ chăn thì hầu như khó cai quản. Vì thế, năm ngoái [1935], Chúng tôi đã nghĩ phải cắt bớt lãnh thổ của GP ấy, một phần sẽ trao cho hàng giáo sĩ bản quốc. Trong khi đó, Chúng tôi đã đặt một GM phó với quyền kế vị hiền đệ Phêrô Munagorri y Obineta [ĐC Trung], GM tông tòa Bùi Chu. GM phó ấy là hiền đệ Đaminh Hồ Ngọc Cẩn, chọn trong hàng giáo sĩ bản quốc, Chúng tôi đặt làm GM tòa hiệu Zenobia. Đến nay xem ra đã thích thuận việc chia GP Bùi Chu nói trên mà chúng tôi rất ước mong, để đưa tới hiệu quả đã nói. GP Bùi Chu này gồm ba tỉnh hành chính, mặc dầu không trọn, tức tỉnh Nam Định, Thái Bình và Hưng Yên. Tỉnh Nam Định rất thịnh đạt về các việc đạo và từ thiện, hàng LM bản quốc và giáo dân đông đảo. Chúng tôi nghĩ đem phần đất thuộc GP Bùi Chu ấy [trừ tỉnh Nam Định không trọn] trao cho hàng giáo sĩ bản quốc thì sẽ sinh ích lợi lớn lao cho các linh hồn. Còn hai tỉnh kia, tức Thái Bình và Hưng Yên [không trọn], vì việc đạo ít tiến bộ hơn, nên vẫn trao cho các thừa sai ngoại quốc cai quản, thì Chúng tôi nghĩ sẽ cho các thừa sai ngoại quốc cai quản, thì Chúng tôi nghĩ sẽ có lợi hơn cho lợi ích thiêng liêng của giáo dân.
Xét như thế, với sự cố vấn của các hiền đệ hồng y đứng đầu Thánh bộ Truyền giáo, Chúng tôi quyết định chia lãnh thổ GP tông toà Bùi Chu, cắt lấy phần thuộc tỉnh Thái Bình và Hưng Yên từ trước vốn thuộc GP ấy, lập thành một GP tông tòa mới, gọi là GP Thái Bình, theo tên của tỉnh đầu mang tên ấy. Chúng tôi uỷ thác GP mới này cho Dòng Đaminh, mà các thừa sai của dòng ấy đã rất có công trong việc truyền bá đức tin tại GP Bùi Chu. Các vị ấy đã lao công lâu dài không mệt mỏi để xây dựng GP được hưng thịnh đến ngày nay. Vì thế Chúng tôi nhượng GP tông tòa Thái Bình và các vị đại diện tông tòa GP ấy, tùy thời gian, được hưởng hết mọi quyền lợi, đặc ân và năng quyền mà các GP tông tòa khác, cũng như các GM GP trên khắp hoàn cầu, được hưởng theo luật chung, đồng thời cũng buộc các vị ấy phải gánh lấy hết mọi bổn phận và trách vụ theo luật nữa.
Về GP tông tòa Bùi Chu, với phần lãnh thổ còn lại như đã nói trên, trong giới hạn tỉnh hành chính Nam Định, thì cứ giữ nguyên tên cũ, và được ủy thác cho hàng giáo sĩ bản quốc theo tông thư này, nhưng hiện thời vẫn ở dưới quyền cai quản của vị GM đại diện tông tòa hiện nay là hiền đệ Phêrô Munagorri y Obineta [Trung], GM hiệu tòa Pitycentini.
Tất cả những điều qui định và thiết chế trên, Chúng tôi muốn truyền hẳn là đã được quyết nghị và có hiệu lực bất chấp bất cứ một ai làm trái lại. Những bản sao của Tông thư này, cả được in ra, cũng phải có chữ ký tự tay và kiểm ấn của một thư ký, một viên chức trong phẩm chức GH. Hoàn toàn phải tin những bản sao đó, vì nó sao lại Tông thư này, hoặc được trình bày đúng như thế.
Chớ có ai phế bỏ hoặc làm trái với việc chia cắt, thành lập, định chế, ủy thác, nhượng ban, bãi luật và ý muốn này của Chúng tôi. Nếu có ai cả dám táo bạo mưu đồ thư thế, thì hãy biết rằng mình sẽ khêu buồn giận cho Thiên Chúa toàn năng và hai Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô.
Ban hành tại Rôma, cạnh Đền thờ Thánh Phêrô, năm Chúa Giáng sinh một nghìn chín trăm ba mươi sáu, ngày mồng chín tháng ba, năm thứ mười lăm triều đại Giáo Hoàng của Chúng tôi.
Fr. TH. PIUS, O.P.
Hồng y Boggiani
Chưởng ấn
Hồng y Fumasoni Biondi,
Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giáo.
Giuse Wilpert, Niên trưởng đoàn Tổng thư ký tông tòa,
Vinhsơn BianchiCagliesi, Tổng thư ký tông tòa.
chỗ + niêm ấn
Tông thư trên đã được dịch toàn văn từ bản Latinh, trong Acta Apostolicae Sedis, bộ XXVIII, năm 1936, trang 392 và 393.
* Ngày thành lập: Ngày 9.3.1936, bằng một sắc lệnh Praecipuas inter Apostolicas: (Những Ưu Tư Tông Đồ), ĐTC Piô XI đã thiết lập GP Thái Bình. Sắc lệnh chỉ rõ: tỉnh Hưng Yên (không trọn: 4 huyện cực bắc không thuộc GP Thái Bình) và tỉnh Thái Bình được tách khỏi địa phận Bùi Chu, để thành lập địa phận Thái Bình. Toà GM đặt tại tỉnh lị Thái Bình.
* Thánh bổn mạng của GP: Thánh Tâm Chúa Giêsu
* Ngày bổn mạng của GP: Thứ sáu sau Chúa nhật Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa
d. Nhà thờ chính tòa
* Hình thành và phát triển
Năm 1906, khi Thái Bình còn nằm trong GP Trung, cố Tây Ban Nha Andres Kiên đã lãnh trách nhiệm chỉ đạo việc xây cất ngôi đường với chiều dài hạn chế. Mãi đến năm 1937 khi GP vừa thoát thai, thánh đường thị xã trở thành nhà thờ chính tòa GP, Đức GM tiên khởi Gioan Casado Thuận mới truyền cho cố Tây Ban Nha Rengen Lễ là cha sở xứ Thái Bình lúc ấy đốc công xây cất thêm phần nhà thờ từ cánh thánh giá trở lên, đồng thời lập bàn thờ sơn son thếp vàng, làm cho ngôi thánh đường trở nên đồ sộ, rộng lớn, bề thế, khang trang hơn nhiều, xứng tầm vóc của ngôi thánh đường mẹ, thánh đường của đức GM, trung tâm hội tụ phụng vụ của toàn GP.
Trong thời kỳ chiến tranh 1954-1975, nhà thờ chính tòa đã hai lần bị trúng bom vào ngày 19.8 và 12.10.1967 gây hư hại nặng cho nhà thờ. Trong hoàn cảnh chiến tranh và nghèo khó ĐC Đaminh Đinh Đức Trụ cùng với hàng giáo sĩ và giáo dân từng bước sửa chữa tạm thời. ĐC Giuse Đinh Bỉnh tiếp tục công việc sửa chữa, và cuối cùng, năm 1995, ĐC P.X. Nguyễn Văn Sang, GM chính tòa GP Thái Bình, đã sửa sang để trở thành ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ.
Ngày 2.2.1996, lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, Đức GM GP đã long trọng cử hành thánh lễ cung hiến nhà thờ chính tòa để ghi nhớ muôn đời.
Để chuẩn bị cho những kỉ niệm lớn: 100 năm xây dựng nhà thờ chính tòa, 60 năm thành lập GP Thái Bình, Đức GM GP cùng với toàn thể LM, nam nữ tu sĩ và giáo dân lên kế hoạch trùng tu lại ngôi nhà thờ chính tòa đã xuống cấp trầm trọng.
Nhà thờ chính tòa cũ đã được xây dựng từ năm 1906, đã được trùng tu hai lần dưới thời ĐC Đaminh Đinh Đức Trụ do cha Giuse Mai Trần Huynh là quản xứ Thái Bình thực hiện; một lần dưới thời ĐC P.X. Nguyễn Văn Sang do cha Giêrônimô Nguyễn Văn Đạo thực hiện. Nhà thờ chính tòa được xây bằng các vật liệu kém là gạch thủ công, cát đào đồng nội với vôi nung gia công, không có bê tông cốt sắt. Trần nhà thờ được thiết kế bằng các chất liệu vôi vữa, rơm tre. Toàn bộ các xà cong được treo bởi các gông bằng gỗ; xà trần và các đầu mộng các xà vòm vì tuổi thọ quá dài nên đã bị mục nát, dù đã khôi phục bằng những dây thép buộc chằng chịt, nay đến ngày sụp đổ. Toàn bộ mái nhà thờ gồm hoành, rui, gỗ và ngói được dựa trên các xà ngang bằng hai thanh sắt chữ I, đã mục nát; quá nhiều lần sửa chữa đã phải dùng giây thép và ốc bulông vít lại, trận bão năm 1997 đã làm nhiều xà bị gãy, toàn bộ lan can bị vỡ nát do tình trạng thụt lún của nhà thờ.
Để tránh tình trạng xấu nhất có thể xảy ra là nhà thờ có thể đổ bất cứ lúc nào trong lúc dâng thánh lễ có đông người tham dự. Theo ý kiến của các chuyên gia xây dựng, nếu trùng tu nhà thờ chính tòa thì kinh phí gấp 2,5 lần xây dựng nhà thờ mới. Vì vậy, Đức GM GP và toàn thể LM đoàn và giáo dân đã quyết định cho xây nhà thờ mới.
Để thuận lợi cho việc xây dựng ngôi thánh đường mới xứng với tầm vóc của ngôi nhà thờ mẹ trong GP, Đức GM và cha xứ nhà thờ chính tòa đã làm đơn yêu cầu trả lại khu đất trước kia của nhà thờ. Sau một thời gian chính quyền cùng với những hộ sử dụng đất đã đồng ý trả lại cho GP với quỹ đất là 2986m2. Năm 2003, đức GM GP đã đặt viên đá góc tường, nhưng phải hai năm sau, tức ngày 17.7.2005, nhà thờ chính thức khởi công. Yêu cầu kiến trúc đối với ngôi nhà thờ mới phải đáp ứng được xu hướng mô hình kiến trúc đồ họa đang thịnh hành ở Việt Nam và được địa phương ưa chuộng từ kiểu dáng cho tới đường nét. Phải cố gắng diễn tả càng nhiều ý nghĩa tôn giáo càng tốt; không dập khuôn theo kiến trúc phương tây: gotique, tum, vòm v.v.; không chạy theo kiến trúc Á Đông như cung đình, chùa chiền, lăng tẩm v.v.; không lòe loẹt, rườm rà; phải đảm bảo độ bền vững lâu dài; phải có tầng trệt để xe cho người dự lễ v.v..
Trải qua quá trình thi công đến ngày 13.10.2007, ngôi Nhà Thờ Chính Tòa Thái Bình mới đã được Đức GM GP cùng với các GM toàn quốc vừa họp xong khóa họp thường niên tại Hà Nội đã về dự lễ và cắt băng khánh thành và thánh hiến.
 

 


Nguồn tin: giáo phận thái bình
Từ khóa:

lịch sử

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

trích lời của Đức Thánh Cha

Để hợp tác vơi Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria, chúng ta hãy hy sinh, hãm mình, ăn chay, cầu nguyện, chịu đựng và dâng hiến sự đau khổ, bịnh tật, những trái ý nghịch lòng để hợp với cuộc Khổ Nạn Chúa KiTô để cầu nguyện cho những linh hồn tội lỗi được ơn hoán cải và để an ùi Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái...

Nghe Bài Giảng Lòng Thương Xót Chúa

Nghe Radio Mỗi Ngày





   
giáo xứ hoàng xá
giáo phận thái bình
giáo xứ quan cao
giáo xứ bác trạch
giáo xứ nam lỗ
svcg thái bình
giáo xứ bồng tiên